Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây
AT DM HQ

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

 
CÔNG TY THAN THỐNG NHẤT - TKV
 
        Quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân Công ty than Thống Nhất, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của đội ngũ công nhân vùng mỏ Quảng Ninh.
 
        Từ năm 1889 - 2015 vừa tròn 126 năm, đội ngũ công nhân vùng mỏ Quảng Ninh đã trải qua những thời kỳ, những giai đoạn lịch sử của đất nước, của dân tộc, không ngừng lớn mạnh và trưởng thành cùng với giai cấp công nhân Việt Nam trong đó có đội ngũ công nhân Công ty than Thống Nhất.
 
        Sau ngày 25/4/1955 khu mỏ hoàn toàn được giải phóng, dưới sự chỉ đạo của Xí nghiệp quốc doanh than Hồng Gai, Đông Lộ Trí và Tây Lộ Trí được nhập thành công trường Lộ Trí do ông Phạm Văn Cát làm quản đốc mức 110 và ông Phạm Văn Giai phụ trách lò kiến thiết cơ bản mức +52, tổng số CBCN lúc bấy giờ là 337 người. Những ngày sau tiếp quản ta tiếp tục khai thác bằng hầm lò, về công nghệ khai thác chủ yếu là thủ công chiếm tới 95%, tổng số than khai thác được từ năm 1955 - 1960 khoảng hơn 60 ngàn tấn.
 
       Vào những năm 1958 do yêu cầu xuất khẩu than ngày càng cao, Đảng và Nhà Nước yêu cầu công nhân Mỏ đẩy mạnh sản xuất để vượt mức 1 triệu 60 vạn tấn than (Mức cao nhất của Pháp hồi năm 1939) và cũng vào năm 1958 -:- 1959 thực hiện phương án phát triển sản xuất, mỏ than Cẩm Phả chỉ đạo mở rộng sản xuất mức +52. Đến cuối năm 1959  đầu năm 1960 hai Công trường Lộ trí (110 - 140) và  Lò +52 được Quyết định hợp nhất thành một Công trường mang tên Thống Nhất.

        Thực hiện Quyết định số 707/BCN tháng 7/1960 của Bộ công nghiệp, Mỏ than Thống Nhất chính thức được thành lập trên cơ sở Công trường Lộ trí, trực thuộc Công ty than Hòn Gai, ông Hoàng Thái - làm Giám đốc, ông Nguyễn Quý Rỹ - làm Bí thư Đảng uỷ, ông Trần Quang Phô là thư ký Công đoàn và ông Nguyễn Quang Sách làm Bí thư Đoàn thanh niên. Cơ cấu tổ chức được hình thành, một xí nghiệp độc lập với tổng số CBCNVC hơn 800 người.

        Được thành lập đúng vào dịp toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong cả nước thi đua lập thành tích Chào mừng Kỷ niệm 15 năm Cách mạng Tháng 8 và Quốc khánh 2/9. Càng thôi thúc CBCN trong mỏ hăng hái thi đua lao động sản xuất để hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch, kết thúc năm đầu tiên mỏ thực hiện được 107.994 tấn than đạt 105,32% kế hoạch.

         Bước sang năm 1961, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (1961 -:- 1965). Mỏ đã phát động phong trào thi đua "Đuổi kịp sóng Duyên hải - Gió Đại phong", thúc đẩy các tổ sản xuất và các Công trường, Phân xưởng phấn đấu hoàn thành kế hoạch về trước 3 ngày đạt sản lượng 204.912 tấn than. Lần đầu tiên Mỏ vinh dự được Chủ tịch nước tặng bằng khen vào ngày 30/1/1962.

         Để mở diện sản xuất và nâng cao sản lượng, tháng 5/1964 mỏ nhận tầng 1/5 của mỏ than Đèo Nai bàn giao, đến năm 1966 mỏ than Cọc Sáu bàn giao cho Mỏ than Thống Nhất công trường khai thác Long Châu Hà.

         Với khí thế thi đua sôi nổi của đội ngũ công nhân mỏ nay là Công ty than Thống Nhất -TKV, phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, kỷ luật và đồng tâm vào những năm 1968 -:- 1969 sản lượng than trung bình sản xuất được từ 80 -:- 100 tấn/ngày. Sau hơn 10 năm sản lượng than đã khai thác được gần 800 ngàn tấn. Đến quý II/1974, Mỏ than Thống Nhất nhận mỏ Tây Khe Sim (Là một Mỏ đã được mở vỉa bằng phương pháp khai thác hầm lò, một mỏ loại trung bình do Việt Nam tự thiết kế và thi công. Công suất mỏ theo thiết kế 300 000 tấn/năm và tồn tại 15 năm).

         Tháng 4/1974 được phép của Công ty than Hồng Gai mỏ đã mở thêm điểm khai thác ở vỉa H12, quý II/1975 mỏ nhận công trường khai thác than Nam quảng Lợi. Quý III/1987 mỏ nhận thêm điểm khai thác lộ thiên tại vỉa 14 (Cao Sơn). Mỏ tự thi công mở vỉa, đến quý IV/1988 mỏ chính thức mở lại công trường lộ thiên 110 khu lộ trí (Đây cũng là mỏ tự thiết kế và thi công).

          Tháng 8/1995 mỏ tiếp nhận khai thác tại vỉa 13-1, 13-2 khu Yên Ngựa, Khe Chàm II bằng cả lộ thiên và hầm lò. Đây cũng là một công trình mỏ tự thiết kế và thi công. Theo thiết kế cho lộ thiên là 40.000 tấn/năm, cho hầm lò là 100.000 tấn/năm. Mỏ sẽ tồn tại trong 15 năm và đến nay Công ty than Thống Nhất tập trung khai thác khu vực Lộ Trí, khu vực Yên Ngựa. Trải qua 55 năm xây dựng và phát triển để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức, hiện nay hàng năm đã được lãnh đạo công ty quan tâm, CNVC hưởng ứng tham gia tập trung vào công tác đào tạo và đào tạo lại nhằm tạo điều kiện nâng cao kiến thức, trình độ nghiệp vụ, trình độ tay nghề cho công nhân thợ mỏ.

        Chỉ trong 15 năm thực hiện quyết định 446/QĐ của Bộ điện và than thành lập trường công nhân kỹ thuật do mỏ quản lý đã đào tạo được 2.475 học sinh cho ngành nghề hầm lò, góp phần đáng kể trong việc duy trì đội ngũ công nhân thợ lò. Năm 1984 tại trường CNKT mỏ đã long trọng tổ chức lễ đón nhận 324 con em của tỉnh Thanh Hoá vào trường đào tạo nghề khai thác hầm lò, đại diện Sở lao động thương binh xã hội và Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hoá bàn giao đủ số lượng học sinh cho mỏ. Trong buổi lễ long trọng đó, đại diện Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tỉnh Thanh Hoá đã tặng cho Đoàn TN mỏ bức trướng màu đỏ thêu những chữ vàng:

 
"Tuổi trẻ đất Lam Sơn
Gian khổ trí không sờn
Quyết xây dựng vùng than
Làm giàu cho Tổ Quốc."
 
        Đến nay, hầu hết số học sinh này đã trưởng thành, có tay nghề, bậc thợ cao, có những đ/c là Quản đốc, Phó quản đốc, Trưởng phó các phòng ban...
         Chính vì vậy mà ngay từ đầu mới thành lập tổng số CBCN trong mỏ là 800 người. Trong đó:
- Cuối năm 1960 số kỹ sư là 04 người, trung cấp 08 người, còn lại là lao động phổ thông là chủ yếu.
- Đến nay tổng số CBCNVC gần 4000 người. Trong đó Cao học 06 người, Đại học và Cao đẳng 761 người, Trung cấp 304 người, CNKT là 2987 người.

        Cùng với sự mở rộng diện sản xuất, tăng trưởng về lao động. Trong những năm qua công ty đã xác định công tác kỹ thuật khai thác là khâu then chốt trong việc chỉ đạo sản xuất kinh doanh, là nền tảng cho công tác điều hành được lãnh đạo quan tâm chỉ đạo và thực hiện.

        Từ chỗ năm đầu mới thành lập, cơ sở vật chất còn rất nhiều khó khăn, về thiết bị chỉ vẻn vẹn có 3 quạt gió cục bộ cũ với công suất 2KW, 04 máy cào, 02 tầu điện cần vẹt, 03 ôtô và một số thiết bị thô sơ khác. Đến nay luôn duy trì diện sản xuất, tập trung cho công tác đào lò. Từ chỗ năm 1960 chỉ có 01 lò chợ chống gỗ đến nay nâng lên 11 lò chợ, 04 Phân xưởng đào lò, sản lượng than toàn Công ty năm 2015 là 1.650.000 tấn phấn đấu đến năm 2018 đạt 2 triệu tấn than. Đầu tư đổi mới công nghệ khai thác (Lò chợ chống bằng giá thuỷ lực di động) và bằng giá GK, ZH, cụm cột thay cho cũi lợn trước đây, giảm chỉ tiêu sử dụng gỗ, hệ số an toàn cao, nâng năng suất lò chợ từ 180 - 230 ngàn tấn/năm.

         Đào lò cũng từng bước được đầu tư, áp dụng công nghệ tiên tiến vào bốc xúc và đào lò, máy combai, máy xúc lật hông, xúc gầu ngược, lò vận chuyển chống bằng vi sắt, cuốn bê tông, vì neo...v.v…

      Vận tải trong lò được chú trọng đầu tư, lắp đặt tuyến băng tải vận tải từ -15 lên +42 khu Yên Ngựa và từ -35 -:- +41 với tổng số trên 40 tuyến băng. Kết quả cho chúng ta thấy công ty đã đầu tư có chiều sâu, đổi mới công nghệ khai thác than đào lò là đúng hướng và đạt hiệu quả cao. Chính vì thế trong 55 năm qua Công ty than Thống Nhất đã sản xuất được trên 20 triệu tấn than và đào trên 200 km đường lò.

         Với tinh thần quyết tâm vượt qua những khó khăn vươn lên trong sản xuất cùng với tinh thần đoàn kết cao, phong trào thi đua lao động sản xuất đã được duy trì và phát triển mạnh, nhiều cặp thợ đã khấu 0,5 giá, cá biệt có cặp đã khấu 6 -:- 7 giá ngay từ đầu năm 1965. Tiêu biểu cho các tổ sản xuất là tổ đào lò Đào Xuân Ngọc, liên tiếp đạt năng suất mới ở lò thượng (+13 -:- +50) nhiều ca đạt 6 vì, có ngày 3 ca đạt 18m, được Bác Hồ tuyên dương tại cuộc mít tinh đầu xuân Tân Tỵ năm 1965.

         Kết thúc quý I/1965 mỏ vinh dự được đón nhận và ghi tên đầu tiên vào lá cờ thi đua luân lưu đầu tiên của Bác Hồ thưởng cho ngành than. Mỏ chúng ta rất vinh dự được đón nhận:
- Huân chương lao động hạng nhì năm 1984
- Cờ thưởng luân lưu của Bác Hồ năm 1987
- Huân chương lao động hạng nhất năm 1991

        Và đặc biệt trong năm 2004 một vinh dự lớn cho toàn thể CBCNVC công ty được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân". Năm 2010 được Nhà nước trao tặng Huân chương độc lập hạng ba và nhiều phần thưởng cao quý khác. Là một mỏ khai thác than hầm lò, trong những năm qua chúng ta cũng rất vinh dự được đón các đ/c lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.

- Đồng chí Thủ tướng Phạm Văn Đồng về thăm mỏ năm 1968
- Đồng chí Đỗ Mười với công nhân mỏ năm 1978
- Chủ tịch nước Trần Đức Lương về thăm mỏ năm 1997
- Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Việt Nam Nguyễn Văn Tư về thăm mỏ năm 1996.
- Đồng chí Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa về thăm mỏ năm 2005 và nhiều đ/c lãnh đạo cao cấp khác.

         Phong trào thi đua của các tổ chức và cá nhân cũng rất sôi nổi liên tục và đều khắp, nhiều tổ đã đăng ký, phấn đấu và trở thành tổ sản xuất XHCN. Tiêu biểu là tổ sản xuất lò chợ KB4 công trường Long Châu Hà, tuy là 1 tổ khai thác lò chợ nhưng do yêu cầu mở diện khai thác, chỉ trong 3 ngày tổ đã đào thủng 84m lò thượng lập lên kỷ lục xuất sắc.

        Tiêu biểu cho phong trào công nhân, vinh dự lớn cho mỏ lúc bấy giờ nay là "Công ty than Thống Nhất" có đồng chí Hoàng Văn Tiến được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động. Tháng 3/1966 mỏ đã kịp thời chuyển hướng từ thời bình sang thời chiến. Những người thợ lò và các chiến sĩ tự vệ đã thực hiện khẩu hiệu "Chắc tay búa - Vững tay súng".

         Năm 1972 mỏ đã huy động 700 CBCN đi làm công trình T72B, xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu ở tuyến đường Đông Bắc cho Bộ quốc phòng. Qua các phong trào thi đua, rèn luyện và đào tạo nên các tập thể, tổ thợ lò, Đào Xuân Ngọc, Lê Đình Nhân, anh hùng lao động Hoàng Văn Tiến và hàng trăm chiến sỹ thi đua, tự vệ quyết thắng được Đảng và Nhà nước tặng thưởng hàng trăm huân, huy chương cho tập thể và cá nhân cùng nhiều phần thưởng, giải thưởng của cấp trên trao tặng cho công ty, đảng bộ và các tổ chức quần chúng.

        Phong trào phát huy sáng kiến cải tiến hợp lý hoá sản xuất đã được Tổng liên đoàn lao động Việt Nam cấp nhiều bằng sáng tạo, những cá nhân tiêu biểu cho phong trào này là kỹ sư Đỗ Văn Đào, kỹ sư Mai Văn Phượng, kỹ sư Hồ Sỹ Lộc, kỹ sư Đặng Sỹ Trí, quản đốc Hoàng Thọ Cầu, quản đốc Hoàng Văn Công...v..v…

         Phong trào hoạt động đời sống văn hoá tinh thần trong những năm qua đã được các cấp lãnh đạo công ty quan tâm đầu tư xây dựng và duy trì. Ngay từ những năm đầu mới thành lập, năm 1962 lần đầu tiên mỏ thành lập đội bóng chuyền nam để tham gia dự giải do địa phương tổ chức, qua thi đấu đội đã đạt danh hiệu vô địch của thị xã Cẩm Phả.

         Năm 1965 đội bóng chuyền nam thi đấu hạng A1 đã đạt giải nhất của tỉnh, tiêu biểu là vận động viên Trần hữu Biểu kiện tướng, Văn Mười vận động viên cấp I...v..v…Năm 1983 đội bóng chuyền nữ thi đấu đã đạt giải nhì do thị xã Cẩm Phả tổ chức.
          Năm 1984 đội bóng đá trẻ của mỏ thi đấu đạt giải nhất của tỉnh.
          Năm 1991 đội bóng chuyền nữ của mỏ đã giành chức vô địch của Công ty than Cẩm Phả.

         Phong trào văn nghệ quần chúng cũng được các cấp lãnh đạo quan tâm, mọi người hưởng ứng. Qua các hội diễn văn nghệ của mỏ đã được Bộ văn hoá tặng thưởng cờ đơn vị có phong trào văn hoá quần chúng khá nhất, tạo tiền đề cho năm 1967 mỏ được nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng ba trong công tác văn hoá quần chúng, phục vụ sản xuất và chiến đấu chống Mỹ cứu nước.

        Có thể nói những thành tích trong phong trào thi đua lao động sản xuất và chăm lo đời sống cho CBCNVC trong công ty 55 năm xây dựng và phát triển, nhân tố quyết định toàn bộ phong trào công nhân là Đảng bộ công ty. Trong suốt chiều dài lịch sử của Công ty than Thống Nhất 55 năm qua, đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng bộ, tuyệt đại bộ phận tận tuỵ với công việc được giao, trung thành với lợi ích của công nhân, có phẩm chất chính trị, năng lực công tác, giản dị, gần gũi với quần chúng, liên tục được công nhận là Đảng bộ vững mạnh. Đối với cơ quan chuyên môn và bộ máy quản lý đã thể hiện rõ việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, các chế độ chính sách pháp luật của nhà nước một cách có hiệu quả. Thường xuyên chú trọng đối với các mặt công tác và quản lý, áp dụng có hiệu quả các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đảm bảo được lợi ích của người lao động, của tập thể và của nhà nước. Thực hiện đúng đắn các mục tiêu phát triển kinh tế, phát huy tốt nội lực, trên cơ sở phát triển nguồn lực trong công ty giữa trước mắt và lâu dài, giữa thủ công và cơ khí, giữa khai thác hầm lò và khai thác lộ thiên đảm bảo cho công ty phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh có bước tăng trưởng kinh tế xã hội, đưa nền sản xuất than liên tục phát triển năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt là năm 2015 cán bộ công nhân Công ty than Thống Nhất phấn đấu hoàn thành 1.650.000 tấn/năm, gấp 17 lần năm 1991 là 93.239 tấn (hoàn toàn là hầm lò). Nhân tố nòng cốt của phong trào công nhân Công ty than Thống Nhất là tổ chức Công đoàn, nơi tập trung rộng lớn nhất, tập hợp đoàn kết mọi lực lượng công nhân lao động, dấy lên các phong trào thi đua. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ trong 55 năm (1960 -:- 2015) tổ chức Công đoàn là nơi xuất phát, đồng thời là nơi tổ chức các phong trào của công nhân. Liên tục được Công nhận là Công đoàn Vững mạnh, Vững mạnh xuất sắc, được Thủ tướng Chính phủ trao tặng Bằng khen năm 2010. Đặc biệt là năm 2011 được Chủ tịch Nước trao tặng Huân chương Lao động Hạng Ba cho Tập thể Công đoàn Công ty.

        Nhân tố xung kích của phong trào công nhân Công ty than Thống Nhất là lực lượng thế hệ trẻ và tổ chức cao nhất là Đoàn TNCS Hồ chí Minh, cánh tay đắc lực, đội ngũ quân hậu bị tràn đầy hứa hẹn trong phong trào công nhân của đảng bộ./.

Kỷ luật - Đồng tâm
THỐNG KÊ TRUY CẬP
  •   Đang truy cập 48
  •   Thành viên online 1
  •   Máy chủ tìm kiếm 1
  •   Khách viếng thăm 46
 
  •   Hôm nay 8,343
  •   Tháng hiện tại 93,133
  •   Tổng lượt truy cập 3,306,423
Người tốt việc tốt
Tổng hợp kết quả SXKD
Tính đến ngày 15/10/2017
- Than sản xuất: 73.378tấn/KH 170.000 tấn đạt 43,2 %
- Đào lò:
+) Đào lò CBSX:
208,2/KH 715m đạt 29,12%
+) Đào lò XDCB: 16,4/KH 30m đạt 55%
- Chống xén: 301,40/KH 560m đạt 53,82%.
- Tiêu thụ: 68.846,894 tấn/KH 170.000 tấn đạt 40,50%
- Doanh thu: 65.154,30tr. đồng /KH 159.513tr. đồng đạt 40,85%.
      Do những ngày đầu tháng 10/2017 có nhiều ngày mưa lớn kéo dài, lượng nước thẩm thấu xuống các gương lò nhiều, do vậy các chỉ tiêu chính như than sản xuất, Đào lò CBSX, tiêu thụ và doanh thu Công ty thực hiện đạt thấp so với kế hoạch đề ra. Chỉ có mét lò đào và mét lò chống xén Công ty thực hiện đạt kế hoạch theo thời gian.